Lọc tín hiệu
GMD

GMD

Tập đoàn Gemadept
Kho bãi, hậu cần và bảo dưỡngHOSE
79.300
+0,76%
2026-08-26

Phân tích cơ bản

89 / 100A
Tiêu chíTăng trưởng EPS quý mới nhất (YoY)Tăng trưởng EPS bình quân 3 quý (YoY)Số quý EPS tăng trưởngTăng trưởng doanh thu (YoY)Thay đổi biên LN gộp (điểm %, YoY)Thay đổi biên LN ròng (điểm %, YoY)Tỷ suất sinh lời VCSH (TTM)Sức khỏe tài chính (Nợ/VCSH)Định giá (P/E so với trung vị 5 năm)
Giá trị+147.1%+109.0%3 / 3+17.9%+1.10 pp+32.53 pp+19.4%0.1613.20
Điểm121212881281212
Chú thích định giá:Giá: 79.300 (giá đóng cửa ngày 2026-08-26)EPS (4 quý): 6.010P/E: 13.2P/E trung vị 5 năm: 19.5

Biểu đồ tài chính

1.Doanh thu

Tỷ đồng5.9562025

2.Lợi nhuận sau thuế

Tỷ đồng2.3032025

3.Cơ cấu lợi nhuận trước thuế

Tỷ đồng2.5212025

4.Biên lãi

%46.0%2025

5.Lưu chuyển tiền

Tỷ đồng2.1422025

6.Định giá

Lần · %13,3×Q2/26

7.Tài sản

Tỷ đồng21.261Q2/26

8.Nguồn vốn

Tỷ đồng21.261Q2/26

9.Người mua trả trước

Tỷ đồng12,7Q2/26

Nguồn: vnstockDữ liệu đến Q2/26

Phân tích doanh nghiệp2026-08-27

GMD – QUÝ II/2026: LỢI NHUẬN CỐT LÕI TIẾP TỤC TĂNG – NAM ĐÌNH VŨ GĐ3 VÀ GEMALINK GĐ2 QUYẾT ĐỊNH DƯ ĐỊA TĂNG TRƯỞNG TIẾP THEO

LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ

1. Hoạt động cảng tiếp tục tăng trưởng tốt, nhưng mức tăng 155% của LNST CĐ mẹ trong quý II/2026 không phản ánh đúng tăng trưởng cốt lõi.

Doanh thu quý II đạt 1.762 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ; lợi nhuận gộp tăng 21% lên 871 tỷ đồng và biên gộp cải thiện từ 48,3% lên 49,4%. LNST CĐ mẹ đạt 1.133 tỷ đồng nhưng bao gồm khoản lãi thoái vốn khoảng 609 tỷ đồng; các CTCK ước tính lợi nhuận cốt lõi quý II chỉ khoảng 524–636 tỷ đồng, tăng khoảng 17–18% so với cùng kỳ.

2. Chất lượng tài sản cảng và khả năng tăng sản lượng vẫn là nền tảng quan trọng nhất của GMD.

Mảng cảng chiếm khoảng 86% doanh thu hợp nhất 6 tháng đầu năm 2026. Nam Đình Vũ đã nâng công suất lên khoảng 2 triệu TEU/năm sau khi hoàn thành giai đoạn 3, trong khi Gemalink đạt hơn 1,9 triệu TEU năm 2025 và chiếm khoảng 25% sản lượng khu vực Cái Mép – Thị Vải; đây là hai tài sản quyết định phần lớn tăng trưởng trung hạn.

3. Dư địa tăng trưởng tiếp theo đến từ việc lấp đầy Nam Đình Vũ GĐ3 và Gemalink GĐ2, nhưng rủi ro cạnh tranh không thể bỏ qua.

Gemalink GĐ2 đã động thổ tháng 4/2026 và dự kiến nâng công suất toàn cảng lên trên 3 triệu TEU/năm khi đi vào khai thác trong năm 2027. Ở phía Bắc, Nam Đình Vũ phải cạnh tranh với công suất mới tại Lạch Huyện; do đó tăng trưởng sản lượng thực tế quan trọng hơn bản thân việc GMD có thêm công suất.

4. Giá 79.300 đồng/cp không còn ở vùng định giá thấp nếu loại lợi nhuận bất thường.

P/E TTM báo cáo khoảng 13,3 lần bị kéo xuống bởi khoản lãi thoái vốn trong quý II. Theo ước tính của Lọc Tín Hiệu, vùng lợi nhuận CĐ mẹ bình thường hóa khoảng 2.000–2.500 tỷ đồng cho giá hợp lý khoảng 69.000–98.000 đồng/cp tùy kịch bản; giá hiện tại nằm khá gần kịch bản cơ sở hơn là kịch bản thận trọng.


1. MEANING – TÌM HIỂU MÔ HÌNH KINH DOANH

Hoạt động kinh doanh cốt lõi

GMD về bản chất là doanh nghiệp hạ tầng cảng biển và logistics, trong đó khai thác cảng hiện là hoạt động quan trọng nhất cả về doanh thu lẫn khả năng tạo lợi nhuận.

Trong quý II/2026, theo Vietcap, doanh thu mảng cảng đạt khoảng 1.468 tỷ đồng, tăng 12% so với cùng kỳ và chiếm hơn 83% doanh thu hợp nhất. Lũy kế 6 tháng, doanh thu cảng đạt khoảng 2.751 tỷ đồng, tương đương khoảng 86% doanh thu toàn công ty.

Điều này có ý nghĩa khá rõ: khi phân tích GMD, biến số cần tập trung không phải tăng trưởng của toàn bộ ngành logistics mà là sản lượng container qua các cảng, mức sử dụng công suất, giá dịch vụ và phần lợi nhuận GMD được hưởng từ các cảng liên doanh.

Hai tài sản cần theo dõi sát nhất hiện nay là:

  • Nam Đình Vũ tại Hải Phòng.
  • Gemalink tại Cái Mép – Thị Vải.

Nam Đình Vũ được hợp nhất vào doanh thu GMD, trong khi Gemalink là liên doanh nên đóng góp đáng kể thông qua lợi nhuận từ công ty liên doanh, liên kết. Vì vậy, nhìn riêng doanh thu hợp nhất sẽ đánh giá thấp vai trò kinh tế của Gemalink đối với GMD.

Khách hàng và thị trường đầu ra

Khách hàng trực tiếp quan trọng nhất của hệ thống cảng GMD là các hãng tàu container, thay vì doanh nghiệp xuất nhập khẩu cuối cùng.

Chuỗi nhu cầu có thể hiểu như sau:

GMD → hãng tàu → vận chuyển container của doanh nghiệp xuất nhập khẩu → thương mại hàng hóa Việt Nam với thế giới.

Các hãng tàu lựa chọn cảng dựa trên nhiều yếu tố: vị trí, độ sâu luồng, khả năng tiếp nhận tàu, năng suất bốc xếp, chi phí, thời gian quay vòng tàu, mạng lưới logistics phía sau cảng và khả năng kết nối với các tuyến vận tải khác.

Ở Gemalink, quan hệ với CMA CGM có ý nghĩa đặc biệt. Gemadept và CMA CGM là đối tác tại cảng này; Gemalink có khả năng tiếp nhận tàu container đến khoảng 250.000 DWT, tương đương tàu khoảng 24.000 TEU. Trong giai đoạn 2021–2025, Gemalink đã tiếp nhận 2.018 chuyến tàu và thông qua tổng cộng khoảng 6,5 triệu TEU.

Báo cáo thường niên 2025 cũng cho thấy số tuyến dịch vụ tại Gemalink tăng từ 8 tuyến năm 2024 lên 12 tuyến năm 2025. Đây là chỉ tiêu đáng chú ý hơn việc chỉ nhìn công suất thiết kế, vì số tuyến và tần suất tàu quyết định khả năng biến công suất thành doanh thu thực tế.

Thị phần và vị thế cạnh tranh

Năm 2025, tổng sản lượng container thông qua hệ thống cảng Gemadept vượt 5 triệu TEU, tăng khoảng 15% và tương đương gần 15% sản lượng container qua hệ thống cảng biển Việt Nam.

Tại hai khu vực trọng điểm, vị thế rõ hơn:

  • Nam Đình Vũ hiện được doanh nghiệp ước tính chiếm khoảng 20% thị phần khu vực Hải Phòng.
  • Gemalink đạt hơn 1,9 triệu TEU năm 2025, tương đương khoảng 25% sản lượng khu vực Cái Mép – Thị Vải.

Các tỷ lệ trên cần lưu ý phần lớn xuất phát từ công bố của doanh nghiệp, không phải một bộ số liệu thị phần độc lập hoàn chỉnh.

Điểm đáng chú ý là sản lượng GMD những năm gần đây có thời điểm tăng nhanh hơn thị trường. Chẳng hạn 7 tháng đầu năm 2025, sản lượng hệ thống cảng GMD tăng 18,4%, trong khi lượng container qua cảng Việt Nam 6 tháng đầu năm tăng khoảng 13%.

Điều này cho thấy tăng trưởng không hoàn toàn chỉ đến từ ngành, mà còn có đóng góp từ việc mở thêm tuyến dịch vụ và khai thác tốt hơn các tài sản cảng.

Nhu cầu đầu ra

Nhu cầu dài hạn của GMD gắn khá trực tiếp với thương mại hàng hóa của Việt Nam.

Riêng quý I/2026, sản lượng container qua hệ thống cảng biển Việt Nam đạt khoảng 6,1 triệu TEU, tăng 12% so với cùng kỳ. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa Việt Nam trong cùng kỳ tăng mạnh, tạo nền nhu cầu thuận lợi cho các cảng container.

Ở Cái Mép – Thị Vải, Gemadept cho biết sản lượng toàn khu vực giai đoạn 2022–2025 tăng khoảng 10–12%/năm và doanh nghiệp dự kiến mức tăng khoảng 8–10%/năm trong giai đoạn 2025–2030.

Đây là nền tảng tương đối thuận lợi cho Gemalink. Tuy nhiên, dự báo này do doanh nghiệp đưa ra nên cần tiếp tục kiểm chứng bằng sản lượng thực tế từng năm.

Công suất mới: Nam Đình Vũ GĐ3 và Gemalink GĐ2

Nam Đình Vũ GĐ3 là nguồn tăng trưởng gần nhất.

Dự án có vốn đầu tư khoảng 2.800 tỷ đồng và đã đón chuyến tàu thương mại đầu tiên từ cuối tháng 9/2025. Sau khi hoàn thành, tổng công suất cụm cảng Nam Đình Vũ đạt gần 2 triệu TEU/năm.

Việc nâng cấp luồng Hà Nam từ -7 m lên -8,5 m cho phép cảng tiếp nhận tàu tới khoảng 50.000 DWT. Điều này giúp hãng tàu tăng tải trọng và giảm phụ thuộc vào thủy triều.

Chuỗi kinh tế ở đây tương đối rõ:

CAPEX Nam Đình Vũ GĐ3 → công suất khoảng 2 triệu TEU → thêm tuyến tàu và sản lượng container → phục vụ thương mại nội Á → tăng doanh thu cảng và cải thiện hấp thụ chi phí cố định.

Nhưng công suất tăng không đồng nghĩa chắc chắn sản lượng tăng tương ứng. Các bến mới tại Lạch Huyện đang tạo thêm lựa chọn cho hãng tàu ở Hải Phòng. Vì vậy, sản lượng thực tế của Nam Đình Vũ trong năm 2026–2027 là chỉ tiêu quan trọng hơn công suất thiết kế.

Động lực lớn hơn sau đó là Gemalink GĐ2.

Gemadept cùng CMA CGM đã động thổ dự án ngày 17/4/2026. Khi hoàn thành, công suất Gemalink dự kiến vượt 3 triệu TEU/năm và dự án dự kiến đi vào khai thác trong năm 2027.

Đây không chỉ là mở rộng công suất trên giấy. Gemalink đã có nền khách hàng, tuyến dịch vụ và sản lượng tương đối lớn trước khi mở rộng. Năm 2025 cảng đã xử lý hơn 1,9 triệu TEU.

Do đó:

Gemalink GĐ2 → thêm công suất cảng nước sâu → phục vụ các hãng tàu mẹ quốc tế → hưởng tăng trưởng container Cái Mép – Thị Vải → tăng lợi nhuận liên doanh cho GMD.

Rủi ro chính nằm ở tiến độ xây dựng, tốc độ tăng sản lượng khu vực và khả năng lấp đầy công suất sau khi dự án vận hành.

Nguyên nhân lợi nhuận quý II/2026 tăng

Cần tách hai lớp.

Hoạt động kinh doanh cốt lõi thực sự cải thiện.

Doanh thu tăng 17,9% lên 1.762 tỷ đồng; lợi nhuận gộp tăng 20,6% lên 871 tỷ đồng. Biên gộp tăng từ khoảng 48,3% lên 49,4%.

Điều này phù hợp với việc sản lượng cảng tăng và công suất được khai thác tốt hơn.

Nhưng LNST CĐ mẹ tăng 155% không phải tăng trưởng cốt lõi.

Doanh thu tài chính quý II tăng lên khoảng 687 tỷ đồng, so với chỉ 62 tỷ đồng cùng kỳ. Theo Vietcap và SBBS, GMD ghi nhận khoảng 609 tỷ đồng lợi nhuận một lần từ thoái các khoản đầu tư dài hạn liên quan tới quá trình tái cấu trúc hợp tác với CJ và một số khoản đầu tư khác.

Vietcap ước tính LNST CĐ mẹ cốt lõi quý II khoảng 636 tỷ đồng, tăng 17% YoY. SBBS sử dụng cách điều chỉnh thận trọng hơn và ước tính khoảng 524 tỷ đồng, tăng khoảng 18%.

Sự khác biệt này cho thấy chưa nên tạo một con số lợi nhuận cốt lõi chính xác duy nhất. Điều chắc chắn hơn là tăng trưởng cốt lõi nằm quanh mức hai chữ số, thấp rất xa mức tăng 155% của lợi nhuận báo cáo.

Kết luận MEANING

GMD hiện chủ yếu tạo giá trị từ hệ thống cảng container phục vụ các hãng tàu và qua đó hưởng tăng trưởng thương mại xuất nhập khẩu Việt Nam. Nam Đình Vũ là tài sản trọng yếu ở phía Bắc còn Gemalink là tài sản cảng nước sâu quan trọng ở phía Nam.

Tăng trưởng hiện tại đến từ cả thị trường container tăng, mở thêm tuyến dịch vụ và mở rộng công suất. Trong vài năm tới, hai biến số quan trọng nhất là sản lượng thực tế tại Nam Đình Vũ sau khi GĐ3 vận hành đầy đủ và khả năng đưa Gemalink GĐ2 vào khai thác đúng tiến độ rồi lấp đầy công suất.


2. MOAT – LỢI THẾ CẠNH TRANH

Lợi thế đáng chú ý nhất của GMD nằm ở vị trí và quy mô tài sản cảng, chứ không đơn thuần ở thương hiệu.

Nam Đình Vũ nằm trong cụm cảng Hải Phòng, có lợi thế với các tuyến nội Á và sau khi luồng Hà Nam được nâng cấp có thể tiếp nhận tàu tới khoảng 50.000 DWT. Gemalink lại nằm tại Cái Mép – Thị Vải và có khả năng tiếp nhận tàu container cỡ lớn nhất hiện nay.

Đây là loại tài sản khó sao chép nhanh. Một cảng mới cần quỹ đất phù hợp, giấy phép, luồng hàng hải, kết nối hậu phương, vốn đầu tư lớn và quan trọng nhất là phải thu hút được hãng tàu.

Lợi thế thứ hai là quan hệ với các hãng tàu và mạng lưới tuyến dịch vụ.

Gemalink có CMA CGM là đối tác chiến lược. Việc số tuyến tại cảng tăng từ 8 lên 12 trong năm 2025 cho thấy khả năng thu hút thêm dịch vụ. Với cảng biển, tuyến tàu hiện hữu tạo ra một mức độ gắn kết nhất định vì hãng tàu phải cân nhắc toàn bộ mạng lưới, lịch trình và chuỗi logistics trước khi chuyển cảng.

Lợi thế thứ ba là mạng lưới cảng trải dài Bắc – Trung – Nam kết hợp logistics. GMD có thể phục vụ nhiều luồng hàng khác nhau thay vì phụ thuộc vào một cảng đơn lẻ.

Tuy nhiên, không nên xem toàn bộ tăng trưởng biên lợi nhuận hiện tại là bằng chứng về lợi thế cạnh tranh ngày càng mạnh. Một phần đến từ sản lượng tăng và hấp thụ chi phí cố định tốt hơn. Nếu sản lượng suy yếu, hiệu ứng này có thể đảo chiều.

Ba chỉ tiêu cần theo dõi trong 2–4 quý tới là:

  1. Sản lượng và mức sử dụng công suất Nam Đình Vũ sau khi GĐ3 vận hành đủ năm.
  2. Sản lượng và số tuyến dịch vụ tại Gemalink.
  3. Biên lợi nhuận gộp mảng cảng khi công suất mới được đưa vào khai thác.

3. FINANCIALS – TÀI CHÍNH

Kết quả kinh doanh quý II/2026

Chỉ tiêuQ2/2025Q2/2026Tăng/giảm
Doanh thu1.494 tỷ1.762 tỷ+17,9%
Lợi nhuận gộp722 tỷ871 tỷ+20,6%
Biên lợi nhuận gộp48,3%49,4%+1,1 điểm %
LNST hợp nhất604 tỷ1.285 tỷ+112,8%
LNST CĐ mẹ445 tỷ1.133 tỷ+154,6%

Hoạt động kinh doanh cho thấy chất lượng tốt hơn con số doanh thu đơn thuần: doanh thu tăng 18% nhưng lợi nhuận gộp tăng 21%, khiến biên gộp mở rộng.

Tuy nhiên, từ lợi nhuận gộp xuống LNST xuất hiện một yếu tố hoàn toàn khác.

Doanh thu tài chính tăng từ khoảng 62 tỷ lên 687 tỷ đồng. Khoản tăng này chủ yếu liên quan tới lợi nhuận thoái vốn một lần khoảng 609 tỷ đồng.

Do đó:

Sản lượng cảng tăng → doanh thu +18% → biên gộp cải thiện → lợi nhuận cốt lõi tăng khoảng 17–18% → cộng khoản thoái vốn → LNST CĐ mẹ báo cáo tăng 155%.

Đây là cách phù hợp hơn để đọc kết quả quý II.

Xu hướng 6 tháng

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026:

  • Doanh thu đạt khoảng 3.214 tỷ đồng, tăng 16%.
  • LNST CĐ mẹ đạt khoảng 1.668 tỷ đồng, tăng khoảng 97%.
  • Vietcap ước tính LNST CĐ mẹ cốt lõi khoảng 1.170 tỷ đồng, tăng 24%.

So với quý I, doanh thu quý II tăng khoảng 21%, từ 1.452 tỷ lên 1.762 tỷ đồng.

Lợi nhuận gộp tăng từ 636 tỷ lên 871 tỷ đồng, tương đương khoảng 37%.

Như vậy, hoạt động kinh doanh không chỉ tốt trong một quý riêng lẻ. Đà tăng cốt lõi đã xuất hiện từ quý I và tiếp tục trong quý II.

GMD đặt kế hoạch năm 2026 gồm hai mức:

Chỉ tiêuKế hoạch đăng kýKế hoạch phấn đấu
Doanh thu6.500 tỷ6.800 tỷ
LNTT2.800 tỷ3.000 tỷ

Sau 6 tháng, doanh thu đạt khoảng 49% kế hoạch đăng ký. Lợi nhuận báo cáo hoàn thành nhanh hơn nhiều, nhưng một phần đáng kể đến từ khoản thoái vốn nên không nên dùng tỷ lệ hoàn thành lợi nhuận báo cáo để đánh giá tốc độ hoạt động cốt lõi.

Sức khỏe tài chính

Tại cuối quý II/2026:

Chỉ tiêu30/6/202530/6/2026Đánh giá
Tiền và tương đương tiền3.749 tỷ1.788 tỷGiảm
Đầu tư ngắn hạn1.263 tỷ3.553 tỷTăng mạnh
Tiền + đầu tư ngắn hạn5.012 tỷ5.341 tỷDuy trì cao
Nợ vay2.180 tỷ2.519 tỷTăng
Tiền/đầu tư ngắn hạn trừ nợ vay+2.832 tỷ+2.822 tỷTiền ròng
Phải thu khách hàng690 tỷ890 tỷ+29%
Hàng tồn kho96 tỷ149 tỷQuy mô nhỏ
Vốn chủ sở hữu13.778 tỷ15.607 tỷ+13%

Nếu chỉ nhìn tiền mặt, bảng cân đối có vẻ yếu đi. Nhưng phần lớn tiền được chuyển sang các khoản đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn.

Tổng tiền, tương đương tiền và đầu tư ngắn hạn cuối quý II vẫn khoảng 5.341 tỷ đồng, cao hơn đáng kể tổng nợ vay khoảng 2.519 tỷ đồng.

Theo cách tính này, GMD có vị thế tiền ròng khoảng 2.822 tỷ đồng.

Đây là điểm quan trọng vì doanh nghiệp đang bước vào chu kỳ đầu tư Gemalink GĐ2 và các dự án mở rộng khác. GMD có khả năng tài trợ CAPEX mà chưa tạo ra mức đòn bẩy đáng lo ngại.

Phải thu khách hàng tăng khoảng 29%, nhanh hơn tăng trưởng doanh thu. Đây là chỉ tiêu cần theo dõi, nhưng với quy mô khoảng 890 tỷ đồng so với doanh thu 6 tháng 3.214 tỷ đồng, hiện chưa đủ cơ sở để xem đây là dấu hiệu suy giảm chất lượng tài sản.

Chất lượng lợi nhuận và dòng tiền

Chỉ tiêu 6 tháng20252026
LNST hợp nhất1.132 tỷ1.936 tỷ
CFO943 tỷ691 tỷ
CFO/LNST83%36%
Chi mua TSCĐ và tài sản dài hạn422 tỷ174 tỷ
CFO sau chi mua TSCĐkhoảng 520 tỷkhoảng 517 tỷ

CFO giảm từ 943 tỷ xuống 691 tỷ đồng trong khi lợi nhuận kế toán tăng mạnh.

Nhìn máy móc, CFO/LNST giảm từ khoảng 83% xuống 36% có vẻ xấu. Nhưng mẫu số năm 2026 chứa khoản lợi nhuận thoái vốn không phải lợi nhuận hoạt động thường xuyên, nên tỷ lệ này bị méo đáng kể.

Nếu so với lợi nhuận cốt lõi, khoảng cách nhỏ hơn.

Điểm tích cực là hoạt động kinh doanh vẫn tạo CFO dương đáng kể. Đồng thời chi mua TSCĐ và tài sản dài hạn trong 6 tháng khoảng 174 tỷ đồng, thấp hơn cùng kỳ.

Vì vậy, chưa có cơ sở để kết luận chất lượng lợi nhuận cốt lõi suy giảm chỉ từ CFO/LNST báo cáo.

Kết luận FINANCIALS

Khả năng sinh lời từ hoạt động cốt lõi đang cải thiện: doanh thu, lợi nhuận gộp và biên gộp đều tăng.

Bảng cân đối vẫn mạnh với khoảng 5.341 tỷ đồng tiền và đầu tư ngắn hạn so với khoảng 2.519 tỷ đồng nợ vay, tương ứng vị thế tiền ròng khoảng 2.822 tỷ đồng.

Dòng tiền hoạt động vẫn dương nhưng tăng chậm hơn lợi nhuận kế toán. Khoảng cách chủ yếu phải được đọc cùng khoản lợi nhuận thoái vốn lớn trong quý II, thay vì kết luận ngay rằng chất lượng lợi nhuận suy yếu.


4. MOS – BIÊN AN TOÀN

Tại ngày 26/8/2026, theo dữ liệu FiinX/FiinPro:

  • Giá GMD: 79.300 đồng/cp.
  • Số cổ phiếu lưu hành: khoảng 432,9 triệu cp.
  • Vốn hóa: khoảng 34.328 tỷ đồng.
  • P/B: khoảng 2,5 lần.

LNST CĐ mẹ năm 2025 đạt khoảng 1.756 tỷ đồng.

LNST CĐ mẹ TTM đến quý II/2026 theo tính toán của Lọc Tín Hiệu vào khoảng 2.575 tỷ đồng. EPS TTM tương ứng khoảng:

2.575 tỷ / 432,9 triệu cp ≈ 5.950 đồng/cp.

P/E TTM:

79.300 / 5.950 ≈ 13,3 lần.

Nhưng 13,3 lần không phải mức P/E phù hợp để kết luận GMD đang rẻ, vì lợi nhuận TTM chứa khoản thoái vốn khoảng 609 tỷ đồng trong quý II/2026.

Nếu loại ảnh hưởng của khoản này, năng lực lợi nhuận thường xuyên thấp hơn đáng kể.

Đổi lại, GMD sở hữu một yếu tố mà P/E đơn thuần cũng chưa phản ánh đầy đủ: khoảng 2.822 tỷ đồng tiền ròng theo cách tính tiền và đầu tư ngắn hạn trừ nợ vay, cùng các tài sản cảng có vị thế tương đối tốt.

Vấn đề của MOS hiện tại vì vậy nằm ở hai phía:

Phía hỗ trợ định giá: hoạt động cảng đang tăng trưởng hai chữ số; Nam Đình Vũ có thêm công suất; Gemalink vẫn tăng sản lượng; Gemalink GĐ2 mở thêm dư địa từ năm 2027.

Phía hạn chế biên an toàn: giá hiện tại đã phản ánh một phần đáng kể kỳ vọng tăng trưởng này. P/B khoảng 2,5 lần và P/E trên lợi nhuận bình thường hóa cao hơn khá nhiều mức P/E TTM báo cáo 13,3 lần.

Do đó, không nên sử dụng khoản lợi nhuận thoái vốn quý II làm nền lợi nhuận cho định giá.


5. ĐỊNH GIÁ

Theo đánh giá của Lọc Tín Hiệu, vùng LNST CĐ mẹ bình thường hóa hợp lý hơn cho GMD hiện nay nằm khoảng 2.000–2.500 tỷ đồng, thay vì lấy LNST TTM báo cáo 2.575 tỷ đồng rồi tiếp tục ngoại suy.

Cơ sở là:

  • Năm 2025 LNST CĐ mẹ đạt khoảng 1.756 tỷ đồng.
  • Lợi nhuận cốt lõi 6 tháng 2026 tiếp tục tăng hai chữ số.
  • Nam Đình Vũ GĐ3 bắt đầu đóng góp đủ hơn trong năm 2026.
  • Gemalink tiếp tục hưởng tăng trưởng sản lượng tại Cái Mép – Thị Vải.
  • Nhưng khoản lãi thoái vốn quý II/2026 không lặp lại thường xuyên.
  • Gemalink GĐ2 chủ yếu tạo thêm công suất từ năm 2027, vì vậy không nên đưa toàn bộ tiềm năng của dự án vào lợi nhuận hiện tại.

Kịch bản thận trọng

Giả định cạnh tranh ở Hải Phòng khiến Nam Đình Vũ lấp đầy chậm hơn kỳ vọng; thương mại container tăng ở mức vừa phải và biên lợi nhuận không tiếp tục mở rộng đáng kể.

LNST CĐ mẹ bình thường hóa khoảng 2.000 tỷ đồng.

EPS khoảng 4.620 đồng.

Với P/E 15 lần:

Giá hợp lý khoảng 69.000 đồng/cp.

Kịch bản cơ sở

Nam Đình Vũ GĐ3 tăng sản lượng tương đối tốt, Gemalink duy trì tăng trưởng và lợi nhuận cốt lõi tiếp tục tăng hai chữ số nhưng không giả định biên lợi nhuận tăng mạnh liên tục.

LNST CĐ mẹ bình thường hóa khoảng 2.250 tỷ đồng.

EPS khoảng 5.200 đồng.

Với P/E 16 lần:

Giá hợp lý khoảng 83.000 đồng/cp.

Kịch bản tích cực

Sản lượng Nam Đình Vũ tăng nhanh sau khi GĐ3 vận hành đầy đủ, Gemalink tiếp tục lấy thêm sản lượng tại Cái Mép – Thị Vải và tiến độ Gemalink GĐ2 tạo độ tin cậy cao cho tăng trưởng 2027–2028.

LNST CĐ mẹ bình thường hóa khoảng 2.500 tỷ đồng.

EPS khoảng 5.775 đồng.

Với P/E 17 lần:

Giá hợp lý khoảng 98.000 đồng/cp.

Kịch bảnLNST CĐ mẹ bình thường hóaEPSP/E hợp lýGiá hợp lý
Thận trọng2.000 tỷ~4.620 đồng15x~69.000 đồng
Cơ sở2.250 tỷ~5.200 đồng16x~83.000 đồng
Tích cực2.500 tỷ~5.775 đồng17x~98.000 đồng

Mức P/E 15–17 lần được sử dụng thay vì P/E thấp hơn của một doanh nghiệp chu kỳ thông thường vì GMD có tài sản hạ tầng cảng khó thay thế, vị thế tiền ròng, tăng trưởng ngành còn tương đối tốt và khả năng tái đầu tư vào Nam Đình Vũ/Gemalink.

Ngược lại, chưa có cơ sở để sử dụng mức P/E quá cao vì GMD vẫn phụ thuộc vào thương mại quốc tế, cạnh tranh công suất cảng, CAPEX lớn và tốc độ lấp đầy các dự án mới.

Tại giá 79.300 đồng, thị trường đang định giá GMD khá gần kịch bản cơ sở.

Nếu áp P/E 16 lần, mức giá hiện tại tương ứng lợi nhuận bình thường hóa khoảng:

79.300 × 432,9 triệu cp / 16 ≈ 2.145 tỷ đồng LNST CĐ mẹ.

Nói cách khác, thị trường hiện đã phản ánh một phần đáng kể khả năng lợi nhuận cốt lõi vượt mức năm 2025.

Biên an toàn vì vậy không lớn nếu Nam Đình Vũ tăng trưởng chậm hoặc Gemalink GĐ2 chậm tiến độ. Ngược lại, dư địa tăng giá đáng kể hơn sẽ xuất hiện nếu GMD chứng minh được năng lực lợi nhuận bình thường hóa tiến dần về 2.500 tỷ đồng và công suất mới được hấp thụ tốt.


6. KẾT LUẬN

Quý II/2026 tiếp tục xác nhận hoạt động cảng của GMD đang tăng trưởng tốt: doanh thu tăng 18%, lợi nhuận gộp tăng 21% và biên gộp tiếp tục cải thiện. Tuy nhiên, mức tăng 155% của LNST CĐ mẹ phần lớn bị khuếch đại bởi khoản lợi nhuận thoái vốn khoảng 609 tỷ đồng và không nên dùng làm nền định giá.

Nam Đình Vũ GĐ3 là nguồn tăng trưởng gần nhất, trong khi Gemalink GĐ2 có thể trở thành động lực lớn hơn từ năm 2027. Bảng cân đối hiện vẫn khỏe với vị thế tiền ròng khoảng 2.822 tỷ đồng.

Ba biến số cần theo dõi trong những quý tới là sản lượng Nam Đình Vũ sau khi GĐ3 vận hành đầy đủ, tăng trưởng sản lượng Gemalink và tiến độ Gemalink GĐ2.

  • Kịch bản thận trọng: ~69.000 đồng/cp.
  • Kịch bản cơ sở: ~83.000 đồng/cp.
  • Kịch bản tích cực: ~98.000 đồng/cp.

Ở mức 79.300 đồng/cp, GMD đang giao dịch khá gần kịch bản cơ sở. Vì vậy, điểm quyết định không còn nằm ở khoản lợi nhuận bất thường đã ghi nhận trong quý II, mà là liệu công suất mới có giúp lợi nhuận cốt lõi tiến từ vùng khoảng 1.700–1.800 tỷ đồng của năm 2025 lên trên 2.200–2.500 tỷ đồng một cách bền vững hay không.


NGUỒN DỮ LIỆU THAM KHẢO

  • BCTC hợp nhất quý II/2026 của CTCP Gemadept, công bố ngày 30/7/2026.
  • BCTC hợp nhất quý II/2025 và BCTC hợp nhất kiểm toán năm 2025 của Gemadept.
  • Báo cáo thường niên Gemadept 2025.
  • Bản tin IR Gemadept quý IV/2025, quý I/2026 và quý II/2026.
  • Tài liệu và thông tin ĐHĐCĐ thường niên Gemadept năm 2026.
  • Công bố của Gemadept về dự án Nam Đình Vũ GĐ3 và Gemalink GĐ2.
  • Dữ liệu FiinX/FiinPro về BCTC, số cổ phiếu lưu hành, giá, vốn hóa và các chỉ tiêu định giá tại ngày 26/8/2026.
  • Báo cáo cập nhật KQKD quý II/2026 của Vietcap.
  • Báo cáo cập nhật quý II/2026 của SBBS.
  • Báo cáo cập nhật GMD năm 2026 của MBS và NHSV.
  • Số liệu sản lượng container cảng biển Việt Nam được Gemadept dẫn nguồn từ Hiệp hội Cảng biển Việt Nam.

Phân tích bởi Lọc Tín Hiệu