Lọc tín hiệu
FRT

FRT

Bán lẻ FPT
Phân phối hàng chuyên dụngHOSE
142.900
−1,45%
2026-08-26

Phân tích cơ bản

74 / 100A
Tiêu chíTăng trưởng EPS quý mới nhất (YoY)Tăng trưởng EPS bình quân 3 quý (YoY)Số quý EPS tăng trưởngTăng trưởng doanh thu (YoY)Thay đổi biên LN gộp (điểm %, YoY)Thay đổi biên LN ròng (điểm %, YoY)Tỷ suất sinh lời VCSH (TTM)Sức khỏe tài chính (Nợ/VCSH)Định giá (P/E so với trung vị 5 năm)
Giá trị+119.3%+88.2%3 / 3+37.2%+0.29 pp+1.50 pp+27.5%2.1921.71
Điểm121212128812-48
Chú thích định giá:Giá: 142.900 (giá đóng cửa ngày 2026-08-26)EPS (4 quý): 6.581P/E: 21.7P/E trung vị 5 năm: 25.5

Biểu đồ tài chính

1.Doanh thu

Tỷ đồng51.0832025

2.Lợi nhuận sau thuế

Tỷ đồng9842025

3.Cơ cấu lợi nhuận trước thuế

Tỷ đồng1.2192025

4.Biên lãi

%19.6%2025

5.Lưu chuyển tiền

Tỷ đồng2.7472025

6.Định giá

Lần · %22,5×Q2/26

7.Tài sản

Tỷ đồng27.261Q2/26

8.Nguồn vốn

Tỷ đồng27.261Q2/26

9.Người mua trả trước

Tỷ đồng99,7Q2/26

Nguồn: vnstockDữ liệu đến Q2/26

Phân tích doanh nghiệp2026-08-27

FRT – QUÝ II/2026: LONG CHÂU BƯỚC SANG GIAI ĐOẠN TĂNG BIÊN LỢI NHUẬN – FPT SHOP PHỤC HỒI DOANH THU NHƯNG LỢI NHUẬN VẪN MỎNG

LUẬN ĐIỂM ĐẦU TƯ

1. Thay đổi quan trọng nhất trong quý II không phải tốc độ mở nhà thuốc mà là khả năng tạo lợi nhuận trên mỗi đồng doanh thu của Long Châu đã tăng rõ rệt.

Quý II/2026, Long Châu đạt khoảng 11.105 tỷ đồng doanh thu, tăng 38% cùng kỳ, nhưng LNST thuộc cổ đông công ty mẹ ước đạt khoảng 340 tỷ đồng, tăng 134%; biên LNST tăng từ khoảng 1,8% lên 3,1%. Đây là nguyên nhân chính khiến LNST CĐ mẹ hợp nhất của FRT tăng 188% lên 341 tỷ đồng dù doanh thu chỉ tăng 37%.

2. Tăng trưởng của Long Châu có cả yếu tố mở rộng mạng lưới và cải thiện hiệu quả cửa hàng, trong khi dư địa chuyển dịch từ nhà thuốc truyền thống sang chuỗi hiện đại vẫn còn lớn.

Cuối tháng 6/2026, Long Châu có 2.639 nhà thuốc, tăng 222 cửa hàng từ đầu năm; doanh thu bình quân vẫn duy trì khoảng 1,3 tỷ đồng/nhà thuốc/tháng dù mạng lưới tiếp tục đi sâu về tỉnh và huyện. Quan trọng hơn, tỷ lệ chi phí bán hàng và quản lý trên doanh thu hợp nhất giảm, cho thấy quy mô bắt đầu tạo đòn bẩy vận hành thay vì tăng trưởng chỉ bằng mở thêm cửa hàng.

3. FPT Shop đã phục hồi doanh thu nhưng chưa trở lại thành nguồn lợi nhuận đáng kể; gần như toàn bộ lợi nhuận hiện vẫn phụ thuộc Long Châu.

Doanh thu FPT Shop quý II tăng 33% lên khoảng 4.572 tỷ đồng, nhưng LNST chỉ quanh mức hòa vốn do biên gộp giảm và chi phí lãi vay tăng mạnh. Điều này vừa là rủi ro tập trung lợi nhuận vào Long Châu, vừa tạo dư địa tăng thêm nếu quá trình chuyển dịch sang điện máy, gia dụng và tối ưu cửa hàng giúp FPT Shop cải thiện biên.

4. Giá 142.900 đồng/cp đã phản ánh một phần đáng kể tăng trưởng của Long Châu nhưng chưa đòi hỏi kịch bản quá cao.

Theo tính toán của Lọc Tín Hiệu, EPS TTM sau cổ tức cổ phiếu khoảng 6.360 đồng/cp, tương ứng P/E khoảng 22,5 lần. Với ba kịch bản LNST CĐ mẹ bình thường hóa 1.150–1.550 tỷ đồng và P/E 20–24 lần, vùng giá hợp lý khoảng 129.000–208.000 đồng/cp; kịch bản cơ sở khoảng 166.000 đồng/cp.


1. MEANING – TÌM HIỂU MÔ HÌNH KINH DOANH

FRT hiện không còn nên được nhìn chủ yếu như một doanh nghiệp bán điện thoại và máy tính.

Hoạt động kinh doanh đã dịch chuyển rõ rệt sang hai hệ thống:

Long Châu: bán lẻ dược phẩm và dịch vụ chăm sóc sức khỏe.

FPT Shop: bán lẻ điện thoại, máy tính, điện máy, gia dụng và các dịch vụ liên quan.

Trong hai mảng này, Long Châu hiện vừa tạo phần lớn doanh thu, vừa tạo gần như toàn bộ lợi nhuận.

Cơ cấu kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026

MảngDoanh thu H1/2026Tỷ trọng gần đúngTăng trưởngVai trò
Long Châu21.448 tỷ~70%+33%Nguồn tăng trưởng và lợi nhuận chính
FPT Shop9.387 tỷ~31%+32%Doanh thu phục hồi nhưng lợi nhuận còn thấp
Hợp nhất sau loại trừ30.743 tỷ100%+33%

Tỷ trọng cộng theo doanh thu từng chuỗi có thể chênh nhẹ so với 100% do giao dịch nội bộ và cách trình bày số liệu.

Điểm quan trọng hơn cơ cấu doanh thu là cơ cấu lợi nhuận.

Theo số liệu cập nhật của Vietcap, trong 6 tháng đầu năm:

  • Long Châu tạo khoảng 611 tỷ đồng LNST thuộc cổ đông công ty mẹ.
  • FPT Shop chỉ tạo khoảng 18 tỷ đồng.
  • FRT hợp nhất đạt khoảng 629 tỷ đồng LNST CĐ mẹ.

Như vậy:

Long Châu hiện quyết định gần như toàn bộ năng lực lợi nhuận của FRT.

Đây là điểm cần giữ xuyên suốt khi định giá doanh nghiệp.

Khách hàng của Long Châu là ai?

Long Châu là mô hình bán lẻ trực tiếp tới người tiêu dùng.

Chuỗi nhu cầu có thể hiểu đơn giản:

FRT/Long Châu → người tiêu dùng → thuốc, thực phẩm chăm sóc sức khỏe, thiết bị y tế và dịch vụ tiêm chủng → nhu cầu điều trị, phòng bệnh và chăm sóc sức khỏe.

Khác với điện thoại hoặc điện máy, một phần lớn nhu cầu dược phẩm có tính thiết yếu.

Khách hàng không mua thuốc vì chu kỳ nâng cấp sản phẩm mà chủ yếu vì:

  • Điều trị bệnh.
  • Điều trị bệnh mãn tính.
  • Phòng bệnh.
  • Chăm sóc sức khỏe.
  • Thực phẩm bổ sung và sản phẩm chăm sóc cá nhân.

Điều này làm nhu cầu cơ bản của Long Châu ít mang tính chu kỳ hơn FPT Shop.

Đồng thời, khách hàng rất phân tán. FRT không phụ thuộc vào một hoặc vài khách hàng lớn nên rủi ro tập trung khách hàng thấp.

Long Châu đang tăng trưởng bằng cả mở cửa hàng và tăng hiệu quả cửa hàng

Cuối quý II/2026, Long Châu có:

2.639 nhà thuốc.

So với đầu năm, chuỗi đã mở thêm:

222 nhà thuốc.

Ngoài ra còn có:

236 trung tâm tiêm chủng.

Nhưng nếu tăng trưởng chỉ đến từ việc mở cửa hàng thì chất lượng tăng trưởng sẽ thấp hơn nhiều.

Điểm đáng chú ý là doanh thu trung bình vẫn duy trì khoảng:

1,3 tỷ đồng/nhà thuốc/tháng.

Mức này cao hơn mức bình quân khoảng 1,2 tỷ đồng năm 2025.

Nói cách khác:

Mạng lưới tiếp tục tăng nhưng doanh thu/cửa hàng không bị pha loãng.

Đây là tín hiệu quan trọng.

Thông thường khi một chuỗi bán lẻ mở rất nhanh từ thành phố lớn xuống tỉnh và huyện, doanh thu bình quân/cửa hàng có nguy cơ giảm do chất lượng vị trí thấp dần.

Long Châu hiện chưa cho thấy điều này.

Thị phần Long Châu cần phân biệt theo cách đo

Các nguồn nghiên cứu đưa ra con số thị phần khá khác nhau vì mẫu số không giống nhau.

Nếu chỉ xét các chuỗi nhà thuốc hiện đại lớn, Long Châu chiếm tỷ trọng áp đảo về số cửa hàng và doanh thu.

Nếu xét toàn bộ thị trường bán lẻ dược phẩm, bao gồm hàng chục nghìn nhà thuốc truyền thống, thị phần thấp hơn đáng kể.

Một số báo cáo năm 2026 ước tính Long Châu đang nắm khoảng 20–25% doanh thu bán lẻ dược phẩm. Trong khi đó, dữ liệu Euromonitor sử dụng phạm vi thị trường rộng hơn cho tỷ trọng thấp hơn đáng kể.

Vì vậy, không nên sử dụng một con số thị phần duy nhất như dữ kiện tuyệt đối.

Điều có thể xác nhận chắc chắn hơn là:

Long Châu hiện là chuỗi nhà thuốc hiện đại lớn nhất Việt Nam xét về quy mô mạng lưới, đồng thời đang tiếp tục tăng nhanh hơn thị trường dược phẩm nói chung.

Đến cuối tháng 6/2026, 2.639 nhà thuốc Long Châu cũng tạo khoảng cách lớn so với hơn 1.000 điểm bán của Pharmacity và hơn 400 điểm bán của An Khang theo các số liệu thị trường được công bố gần đây.

Dư địa tăng trưởng nằm ở quá trình chuyển dịch từ nhà thuốc truyền thống sang chuỗi hiện đại

Đây là vấn đề quan trọng hơn tăng trưởng chung của ngành dược.

Thị trường dược phẩm Việt Nam vốn rất phân mảnh với hàng chục nghìn nhà thuốc độc lập.

Một số nghiên cứu ước tính thị trường dược phẩm Việt Nam không bao gồm vaccine đạt khoảng 214.000 tỷ đồng năm 2025 và tăng trưởng khoảng 10%/năm trong giai đoạn 2020–2025.

Trong khi đó, doanh thu Long Châu:

2025: khoảng 34.501 tỷ đồng, tăng 36%.

H1/2026: khoảng 21.448 tỷ đồng, tăng 33%.

Long Châu đang tăng nhanh hơn đáng kể tốc độ tăng của toàn ngành.

Điều này cho thấy tăng trưởng không chỉ đến từ:

Người Việt Nam chi nhiều hơn cho thuốc

mà còn từ:

Long Châu lấy thị phần từ các nhà thuốc truyền thống và các chuỗi nhỏ hơn.

Đây mới là nguồn tăng trưởng cấu trúc quan trọng.

Người tiêu dùng chuyển sang chuỗi hiện đại vì khả năng truy xuất nguồn gốc, độ sẵn có của thuốc, niêm yết giá, tư vấn, độ phủ và sự thuận tiện tốt hơn.

Nếu quá trình này tiếp tục, Long Châu có thể tăng trưởng nhanh hơn ngành ngay cả khi tốc độ tăng của tổng thị trường dược phẩm giảm.

Trung tâm tiêm chủng đang mở thêm một thị trường mới

Long Châu không chỉ tăng số nhà thuốc.

Đến cuối tháng 6/2026, hệ thống có:

236 trung tâm tiêm chủng.

Con số này tăng thêm 13 trung tâm so với đầu năm.

So với 2.639 nhà thuốc, mạng lưới tiêm chủng còn nhỏ hơn nhiều và đóng góp lợi nhuận hiện tại chưa phải yếu tố chính.

Nhưng ý nghĩa kinh tế nằm ở việc Long Châu đang chuyển từ:

nhà bán lẻ thuốc

sang:

hệ thống cung cấp nhiều dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cùng một tập khách hàng.

Chuỗi có thể tận dụng:

  • Thương hiệu Long Châu.
  • Dữ liệu khách hàng.
  • Mạng lưới hiện hữu.
  • Hệ thống công nghệ.
  • Độ phủ địa lý.
  • Quan hệ với các hãng dược.

để bán thêm dịch vụ cho cùng một khách hàng.

Theo Vietcap, mảng tiêm chủng có khả năng bắt đầu đóng góp tích cực hơn vào lợi nhuận từ năm 2027.

Do vậy, tiêm chủng hiện chưa phải trụ lợi nhuận nhưng có khả năng trở thành nguồn tăng trưởng thứ hai của hệ sinh thái Long Châu.

FPT Shop đang phục hồi nhưng chất lượng phục hồi chưa hoàn chỉnh

6 tháng đầu năm 2026, FPT Shop đạt khoảng:

9.387 tỷ đồng doanh thu, tăng 32%.

Riêng quý II:

4.572 tỷ đồng, tăng 33%.

Đây là mức phục hồi đáng kể sau giai đoạn ngành công nghệ thông tin – điện thoại suy yếu và FRT phải tái cấu trúc hệ thống.

Số cửa hàng cuối quý II là:

621 cửa hàng.

FRT không còn chạy theo việc mở thêm FPT Shop.

Chiến lược hiện nay chuyển sang:

tăng doanh thu trên cửa hàng hiện hữu + mở rộng điện máy/gia dụng + dịch vụ số + SIM FPT.

Đây là thay đổi hợp lý vì thị trường điện thoại thông minh đã trưởng thành hơn và dư địa mở cửa hàng điện thoại thuần túy không còn lớn.

Tuy nhiên, doanh thu tăng chưa đồng nghĩa lợi nhuận đã phục hồi hoàn chỉnh.

Quý II, lợi nhuận của FPT Shop chỉ quanh mức hòa vốn.

Một nguyên nhân là biên gộp giảm.

Biên gộp FPT Shop quý II khoảng:

11,5%, giảm khoảng 1,1 điểm % cùng kỳ.

Trong khi chi phí lãi vay của FRT tăng mạnh.

Do vậy, hiện tại chưa có cơ sở coi FPT Shop là nguồn tăng trưởng lợi nhuận quan trọng ngang Long Châu.

Biến số quan trọng nhất của quý II là biên lợi nhuận Long Châu

Quý II/2026:

Chỉ tiêu Long ChâuQ2/2026Tăng trưởng YoY
Doanh thu~11.105 tỷ+38%
Lợi nhuận gộp~2.633 tỷ+43%
Biên gộp23,7%+0,8 điểm %
EBIT~557 tỷ+125%
Biên EBIT5,0%+1,9 điểm %
LNST CĐ mẹ~340 tỷ+134%
Biên LNST3,1%+1,3 điểm %

Đây là phần quan trọng nhất của kết quả quý II.

Doanh thu tăng 38% nhưng EBIT tăng 125% và LNST tăng 134%.

Nguyên nhân không nằm ở một khoản thu nhập bất thường lớn mà chủ yếu đến từ:

doanh thu tăng + biên gộp cải thiện + chi phí vận hành tăng chậm hơn doanh thu.

Nói cách khác, Long Châu bắt đầu hưởng lợi rõ hơn từ quy mô.

Đây là khác biệt lớn giữa giai đoạn hiện tại và giai đoạn trước, khi tăng trưởng chủ yếu được nhìn qua số lượng cửa hàng mới.

Kết luận MEANING

FRT hiện là doanh nghiệp bán lẻ chăm sóc sức khỏe có thêm mảng bán lẻ công nghệ, thay vì ngược lại như nhiều năm trước.

Long Châu bán trực tiếp thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe cho tập khách hàng cá nhân rất phân tán. Nhu cầu cuối cùng tương đối thiết yếu, trong khi quá trình chuyển dịch từ nhà thuốc truyền thống sang chuỗi hiện đại vẫn tạo dư địa để Long Châu tăng nhanh hơn toàn ngành.

Tăng trưởng hiện đến từ ba nguồn: mở thêm nhà thuốc, duy trì doanh thu/cửa hàng ở mức cao và cải thiện biên lợi nhuận nhờ quy mô. Trong đó, biến số quan trọng nhất sau quý II/2026 đã chuyển dần từ số cửa hàng mới sang doanh thu/cửa hàng và biên lợi nhuận Long Châu.


2. MOAT – LỢI THẾ CẠNH TRANH

Lợi thế của Long Châu hiện chủ yếu nằm ở quy mô mạng lưới, năng suất cửa hàng, quan hệ với nhà cung cấp và hệ thống dữ liệu – vận hành.

Quy mô đã tạo khoảng cách rõ với đối thủ

Với 2.639 nhà thuốc cuối quý II/2026, Long Châu có mạng lưới lớn hơn đáng kể các chuỗi nhà thuốc hiện đại khác.

Quy mô tạo lợi thế ở nhiều cấp độ.

Thứ nhất, nhà cung cấp dược phẩm có động lực hợp tác với chuỗi có khả năng đưa sản phẩm đến hàng triệu khách hàng trên toàn quốc.

Thứ hai, FRT có thể phân bổ hàng hóa giữa các cửa hàng tốt hơn.

Thứ ba, chi phí công nghệ, kho vận, quản lý và marketing được phân bổ trên nền doanh thu ngày càng lớn.

Điều đáng chú ý là lợi thế quy mô hiện bắt đầu xuất hiện trực tiếp trên báo cáo lợi nhuận.

Biên EBIT Long Châu quý II tăng:

từ khoảng 3,1% lên 5,0%.

Đây là bằng chứng kinh tế rõ hơn nhiều so với chỉ nhìn số cửa hàng.

Doanh thu/cửa hàng cao cho thấy chất lượng mạng lưới

Long Châu duy trì khoảng 1,3 tỷ đồng doanh thu/nhà thuốc/tháng dù tiếp tục mở rộng mạng lưới.

Đây là chỉ tiêu rất quan trọng.

Một chuỗi bán lẻ có thể mở nhanh nhưng không tạo lợi thế nếu doanh thu/cửa hàng liên tục giảm.

Ngược lại:

cửa hàng tăng + doanh thu/cửa hàng giữ được + biên lợi nhuận tăng

cho thấy mạng lưới mới vẫn có khả năng hấp thụ nhu cầu.

Đây là tín hiệu cho thấy Long Châu chưa phải mở rộng bằng cách hy sinh quá nhiều chất lượng cửa hàng.

Danh mục thuốc và quan hệ với hãng dược tạo lợi thế khó sao chép nhanh

Với quy mô hiện tại, Long Châu có khả năng hợp tác trực tiếp với nhiều tập đoàn dược quốc tế và đưa các thuốc, giải pháp điều trị mới vào hệ thống.

Các thỏa thuận với những doanh nghiệp dược lớn như Abbott, Novo Nordisk và các đối tác khác cho thấy vai trò của Long Châu trong chuỗi phân phối dược đang tăng.

Ý nghĩa không chỉ nằm ở một sản phẩm cụ thể.

Khi nhà sản xuất muốn đưa thuốc mới tới thị trường Việt Nam, một hệ thống có hơn 2.600 điểm bán, dữ liệu khách hàng và đội ngũ dược sĩ trên toàn quốc trở thành đối tác phân phối có giá trị.

Lợi thế này tăng theo quy mô mạng lưới.

Dữ liệu khách hàng có thể tạo khả năng bán chéo

Khách hàng mua thuốc có xu hướng quay lại, đặc biệt đối với bệnh mãn tính.

Điều này tạo dữ liệu về:

  • Lịch sử mua thuốc.
  • Nhu cầu điều trị.
  • Địa điểm.
  • Hành vi mua.
  • Nhu cầu tiêm chủng và chăm sóc sức khỏe.

Nếu được khai thác đúng quy định, cùng một tập khách hàng có thể sử dụng thêm các dịch vụ khác trong hệ sinh thái Long Châu.

Đây là lợi thế mà nhà thuốc độc lập nhỏ khó xây dựng ở quy mô tương đương.

Tuy nhiên, chưa nên định giá quá cao yếu tố này trước khi các dịch vụ mới chứng minh được khả năng tạo lợi nhuận.

Không nên coi toàn bộ mức tăng biên quý II là lợi thế vĩnh viễn

Biên LNST Long Châu tăng lên 3,1% là rất tích cực.

Nhưng một quý chưa đủ để kết luận biên mới có thể duy trì dài hạn.

Biên có thể chịu ảnh hưởng bởi:

  • Cơ cấu thuốc và thực phẩm chức năng.
  • Chính sách giá.
  • Chiết khấu từ nhà cung cấp.
  • Tốc độ mở cửa hàng.
  • Chi phí nhân sự.
  • Chi phí logistics.
  • Mức cạnh tranh từ Pharmacity và An Khang.

Do đó, 2–4 quý tới cần theo dõi ba biến số:

Doanh thu bình quân/nhà thuốc.

Biên gộp Long Châu.

Biên EBIT và biên LNST Long Châu.

Nếu số cửa hàng tiếp tục tăng mà doanh thu/cửa hàng duy trì quanh 1,2–1,3 tỷ đồng/tháng và biên LNST giữ quanh 3% hoặc cao hơn, khả năng Long Châu đã bước sang một mặt bằng lợi nhuận mới sẽ được xác nhận rõ hơn.


3. FINANCIALS – TÀI CHÍNH

Kết quả kinh doanh quý II/2026

Chỉ tiêuQ2/2025Q2/2026Tăng/giảm
Doanh thu11.390 tỷ15.626 tỷ+37,2%
Lợi nhuận gộp2.271 tỷ3.161 tỷ+39,2%
Biên lợi nhuận gộp19,9%20,2%+0,3 điểm %
LNST hợp nhất157 tỷ451 tỷ+186,5%
LNST CĐ mẹ119 tỷ341 tỷ+187,8%

Đây là một quý tăng trưởng lợi nhuận có chất lượng tương đối tốt.

Lợi nhuận không tăng mạnh nhờ một khoản thanh lý hay hoàn nhập lớn.

Nguyên nhân chính nằm ở hoạt động kinh doanh:

Long Châu tăng doanh thu → biên gộp Long Châu cải thiện → chi phí vận hành tăng chậm hơn doanh thu → biên EBIT tăng → LNST tăng nhanh.

Chi phí bán hàng quý II tăng từ khoảng:

1.660 tỷ → 2.115 tỷ đồng, tương đương khoảng 27%.

Trong khi doanh thu tăng:

37%.

Chi phí quản lý tăng từ khoảng:

374 tỷ → 447 tỷ đồng, tương đương khoảng 20%.

Như vậy cả hai nhóm chi phí vận hành chính đều tăng chậm hơn doanh thu.

Đây là nguyên nhân quan trọng khiến lợi nhuận tăng nhanh hơn doanh thu.

Điểm bất lợi là chi phí tài chính tăng mạnh

Chi phí tài chính quý II tăng từ:

94 tỷ → 211 tỷ đồng.

Trong đó phần lớn là lãi vay.

Chi phí lãi vay riêng quý II khoảng:

210 tỷ đồng, hơn gấp đôi cùng kỳ.

Đây là yếu tố đang làm giảm một phần lợi ích từ tăng trưởng hoạt động.

Nếu lãi suất tăng hoặc nhu cầu vốn lưu động tiếp tục mở rộng mạnh, chi phí tài chính có thể trở thành lực cản đáng kể hơn.

Xu hướng lợi nhuận tiếp tục tăng so với quý I

Chỉ tiêuQ1/2026Q2/2026Thay đổi QoQ
Doanh thu15.117 tỷ15.626 tỷ+3,4%
Lợi nhuận gộp2.995 tỷ3.161 tỷ+5,5%
LNST hợp nhất375 tỷ451 tỷ+20,3%
LNST CĐ mẹ287 tỷ341 tỷ+18,8%

Doanh thu chỉ tăng khoảng 3% so với quý I nhưng LNST CĐ mẹ tăng gần 19%.

Điều này tiếp tục cho thấy tăng trưởng lợi nhuận đang chuyển dần từ:

mở rộng doanh thu

sang:

cải thiện hiệu quả trên nền doanh thu hiện hữu.

6 tháng đã vượt khá xa tiến độ lợi nhuận kế hoạch

Lũy kế H1/2026:

Doanh thu: 30.743 tỷ đồng, +33%.

LNTT: 1.038 tỷ đồng, khoảng gấp đôi cùng kỳ.

LNST hợp nhất: khoảng 825 tỷ đồng.

LNST CĐ mẹ: khoảng 629 tỷ đồng.

Kế hoạch năm 2026 của FRT:

Doanh thu: 59.500 tỷ đồng.

LNTT: 1.550 tỷ đồng.

Như vậy sau 6 tháng:

Doanh thu hoàn thành khoảng 52% kế hoạch.

LNTT hoàn thành khoảng 67% kế hoạch.

Lợi nhuận đang chạy nhanh hơn doanh thu.

Nếu không có biến động bất lợi lớn trong nửa cuối năm, kế hoạch LNTT 1.550 tỷ đồng đang trở nên tương đối thận trọng so với kết quả H1.

Tuy nhiên, không nên đơn giản lấy 1.038 tỷ đồng × 2 để dự báo năm vì mùa vụ bán lẻ và chi phí giữa các quý không hoàn toàn giống nhau.

Bảng cân đối: lượng tiền lớn nhưng nợ vay cũng rất lớn

Chỉ tiêu31/12/202530/6/2026Thay đổi
Tiền và tương đương tiền2.870 tỷ557 tỷGiảm mạnh
Đầu tư nắm giữ đến đáo hạn ngắn hạn5.929 tỷ8.811 tỷTăng mạnh
Tiền + đầu tư ngắn hạn8.799 tỷ9.368 tỷ+6,5%
Nợ vay ngắn hạn10.052 tỷ13.075 tỷ+30,1%
Nợ vay dài hạn00Không đáng kể
Nợ ròng~1.253 tỷ~3.707 tỷTăng
Phải thu khách hàng233 tỷ318 tỷ+36%
Hàng tồn kho ròng11.927 tỷ14.908 tỷ+25%
Vốn chủ sở hữu5.139 tỷ5.964 tỷ+16%

Nếu chỉ nhìn tiền mặt 557 tỷ đồng sẽ gây hiểu nhầm vì FRT đang gửi khoảng 8.811 tỷ đồng dưới dạng đầu tư nắm giữ đến ngày đáo hạn ngắn hạn.

Tổng nguồn tiền có tính thanh khoản cao vì vậy khoảng:

9.368 tỷ đồng.

Nhưng nợ vay ngắn hạn lên tới:

13.075 tỷ đồng.

FRT đang ở trạng thái:

nợ ròng khoảng 3.700 tỷ đồng.

Đây không phải bảng cân đối kiểu tiền ròng.

Vì sao FRT vay lớn dù có lượng tiền gửi lớn?

Đây là đặc điểm cần nhìn trong bối cảnh doanh nghiệp bán lẻ.

FRT phải tài trợ lượng hàng tồn kho rất lớn:

14.908 tỷ đồng cuối tháng 6/2026.

Trong khi hàng tồn kho cuối năm 2025 khoảng:

11.927 tỷ đồng.

Tăng gần:

3.000 tỷ đồng trong 6 tháng.

Mạng lưới Long Châu hơn 2.600 nhà thuốc yêu cầu lượng hàng hóa lớn và độ sẵn có cao, trong khi FPT Shop cũng cần duy trì tồn kho điện thoại, máy tính và điện máy.

Do đó nợ vay chủ yếu phục vụ vốn lưu động.

Điểm tích cực là phần lớn nợ vay ngắn hạn được đối ứng bởi tiền gửi và hàng tồn kho có vòng quay tương đối nhanh.

Nhưng rủi ro lãi suất là có thật.

Quý II đã cho thấy điều này khi chi phí lãi vay gần 210 tỷ đồng.

Phải thu không phải rủi ro lớn hiện tại

Phải thu khách hàng cuối quý II khoảng:

318 tỷ đồng.

So với doanh thu 6 tháng hơn 30.700 tỷ đồng, con số này rất nhỏ.

Điều này phù hợp với mô hình bán lẻ B2C:

khách hàng chủ yếu thanh toán ngay → doanh nghiệp không phải cấp tín dụng thương mại lớn.

Vì vậy rủi ro vốn lưu động của FRT tập trung vào:

tồn kho

hơn là:

phải thu.

Chất lượng dòng tiền chưa theo kịp lợi nhuận

Lũy kế 6 tháng đầu năm 2026:

Chỉ tiêuH1/2025H1/2026
LNST hợp nhất~370 tỷ~825 tỷ
CFO~497 tỷ~9 tỷ
CFO/LNST~134%~1%
Chi mua TSCĐ và tài sản dài hạn~165 tỷ~151 tỷ

Đây là điểm cần lưu ý.

Lợi nhuận tăng rất mạnh nhưng CFO gần như bằng 0.

Nguyên nhân chính nằm ở vốn lưu động, đặc biệt là hàng tồn kho.

Trong 6 tháng:

Tồn kho tăng gần 3.000 tỷ đồng.

Như vậy phần tiền tạo ra từ lợi nhuận đang được tái sử dụng để tài trợ cho hàng hóa và quá trình mở rộng hệ thống.

Không nên kết luận lợi nhuận kém chất lượng chỉ vì CFO thấp trong một kỳ.

Nhưng nếu trong nhiều quý tiếp theo:

LNST tiếp tục tăng mạnh nhưng CFO vẫn không cải thiện

thì cần đánh giá lại hiệu quả sử dụng vốn.

CAPEX không phải áp lực lớn nhất

Chi tiền mua TSCĐ và tài sản dài hạn H1/2026 khoảng:

151 tỷ đồng.

Con số này không lớn so với quy mô lợi nhuận và vốn lưu động.

Do vậy vấn đề tài chính chính của FRT hiện không nằm ở CAPEX xây dựng.

Nhu cầu vốn chủ yếu nằm ở:

hàng tồn kho và vốn lưu động phục vụ mạng lưới bán lẻ.

Kết luận FINANCIALS

Khả năng sinh lời đang cải thiện nhanh, đặc biệt nhờ Long Châu tăng biên lợi nhuận.

Bảng cân đối không yếu về thanh khoản vì FRT có hơn 9.300 tỷ đồng tiền và đầu tư ngắn hạn, nhưng doanh nghiệp đồng thời có hơn 13.000 tỷ đồng nợ vay và đang ở trạng thái nợ ròng khoảng 3.700 tỷ đồng. Chi phí lãi vay vì vậy là rủi ro cần theo dõi.

Chất lượng dòng tiền H1/2026 chưa theo kịp lợi nhuận: CFO gần như bằng 0 chủ yếu do tồn kho tăng mạnh. Điều này có thể chấp nhận trong giai đoạn mở rộng, nhưng cần thấy CFO cải thiện khi tốc độ tăng tồn kho bình thường hóa.


4. MOS – BIÊN AN TOÀN

Tại ngày 26/8/2026, theo dữ liệu FiinX/FiinPro:

  • Giá FRT: 142.900 đồng/cp.
  • Số cổ phiếu lưu hành: khoảng 178,82 triệu cp.
  • Vốn hóa: khoảng 25.553 tỷ đồng.
  • P/E cơ bản: khoảng 22,5 lần.
  • P/B: khoảng 5,3 lần.

Số cổ phiếu hiện tại đã phản ánh đợt trả cổ tức năm 2025 bằng cổ phiếu tỷ lệ 5%.

FRT đã phân phối khoảng 8,51 triệu cổ phiếu trong tháng 7/2026, nâng số cổ phiếu lưu hành lên khoảng 178,8 triệu đơn vị.

Do đó phải sử dụng số cổ phiếu sau phát hành khi tính EPS và giá mục tiêu hiện tại.

EPS TTM cần được tính lại sau cổ tức cổ phiếu

LNST CĐ mẹ bốn quý gần nhất:

  • Q3/2025: khoảng 219 tỷ đồng.
  • Q4/2025: khoảng 290 tỷ đồng.
  • Q1/2026: khoảng 287 tỷ đồng.
  • Q2/2026: khoảng 341 tỷ đồng.

Tổng:

~1.137 tỷ đồng.

Với khoảng 178,82 triệu cổ phiếu:

EPS TTM ≈ 6.360 đồng/cp.

Tại giá 142.900 đồng:

P/E TTM ≈ 22,5 lần.

Con số này khớp tương đối với dữ liệu định giá của FiinX/FiinPro.

Lợi nhuận TTM hiện tại có còn ở vùng bất thường thấp?

Không.

Đây là điểm khác với giai đoạn 2024–2025.

Long Châu đã vượt qua giai đoạn đầu tư mạnh nhưng lợi nhuận thấp, trong khi FPT Shop đã qua phần khó khăn nhất của quá trình tái cấu trúc.

LNST CĐ mẹ TTM khoảng 1.137 tỷ đồng đã phản ánh khá rõ sự phục hồi.

Nhưng quý II cũng có mức biên Long Châu cao nhất từ trước đến nay.

Vì vậy không nên lấy:

341 tỷ đồng × 4 = 1.364 tỷ đồng

rồi mặc định đây là lợi nhuận bình thường.

Cần kiểm tra khả năng duy trì biên Long Châu trước.

LNST CĐ mẹ bình thường hóa

Kết quả H1/2026 đạt khoảng:

629 tỷ đồng LNST CĐ mẹ.

Một số CTCK trước quý II dự báo LNST CĐ mẹ 2026 khoảng:

1.100–1.150 tỷ đồng.

Tuy nhiên kết quả quý II cao hơn kỳ vọng ban đầu, đặc biệt do biên lợi nhuận Long Châu tăng mạnh.

VDSC sau kết quả quý II cũng cho rằng có cơ sở nâng dự báo lợi nhuận năm 2026.

Theo đánh giá của Lọc Tín Hiệu, vùng lợi nhuận có thể sử dụng để xây dựng kịch bản hiện tại nên nằm khoảng:

1.150–1.550 tỷ đồng LNST CĐ mẹ.

Trong đó:

  • 1.150 tỷ đồng giả định biên Long Châu giảm lại trong H2.
  • 1.350 tỷ đồng giả định biên duy trì tương đối gần mặt bằng hiện tại nhưng không tiếp tục tăng mạnh.
  • 1.550 tỷ đồng cần Long Châu tiếp tục tăng doanh thu, giữ biên tốt và FPT Shop cải thiện thêm.

Khoảng này hợp lý hơn việc ngoại suy máy móc quý II.

Giá hiện tại đang phản ánh mức lợi nhuận nào?

Vốn hóa hiện tại:

~25.553 tỷ đồng.

Nếu sử dụng P/E 22 lần:

LNST CĐ mẹ ngầm định ≈ 1.161 tỷ đồng.

Nếu P/E 20 lần:

LNST CĐ mẹ ngầm định ≈ 1.278 tỷ đồng.

Nếu P/E 18 lần:

LNST CĐ mẹ ngầm định ≈ 1.420 tỷ đồng.

Như vậy giá hiện tại không còn phản ánh một Long Châu ở giai đoạn lợi nhuận thấp.

Thị trường đã đưa vào giá một phần đáng kể kỳ vọng:

Long Châu tiếp tục tăng trưởng và biên lợi nhuận duy trì ở mặt bằng mới.

Điểm chưa chắc chắn là mức biên 3,1% quý II có thể duy trì bao lâu.

Đây chính là biến số quyết định biên an toàn.


5. ĐỊNH GIÁ

FRT phù hợp hơn với phương pháp P/E dựa trên LNST CĐ mẹ bình thường hóa.

P/B ít hữu ích hơn do mô hình bán lẻ không cần lượng tài sản cố định lớn để tạo doanh thu, trong khi giá trị của mạng lưới, thương hiệu và hệ thống vận hành không phản ánh đầy đủ trên vốn chủ sở hữu kế toán.

Lọc Tín Hiệu sử dụng khoảng:

178,82 triệu cổ phiếu

sau đợt trả cổ tức cổ phiếu 5%.

Kịch bản thận trọng

Giả định:

  • Long Châu tiếp tục mở cửa hàng nhưng tốc độ tăng doanh thu chậm lại.
  • Doanh thu/cửa hàng giảm nhẹ khi đi sâu hơn về tỉnh/huyện.
  • Biên LNST Long Châu không duy trì được mức 3,1% của quý II.
  • FPT Shop tăng doanh thu nhưng lợi nhuận vẫn mỏng.
  • Chi phí lãi vay duy trì cao.
  • LNST CĐ mẹ bình thường hóa khoảng 1.150 tỷ đồng.

EPS:

1.150 tỷ / 178,82 triệu
6.430 đồng/cp.

Với P/E 20 lần:

Giá hợp lý ≈ 128.600 đồng/cp.

Làm tròn:

~129.000 đồng/cp.

Kịch bản cơ sở

Giả định:

  • Long Châu tiếp tục tăng trưởng trên 20%.
  • Mạng lưới tiếp tục mở nhưng doanh thu/cửa hàng duy trì tốt.
  • Biên Long Châu thấp hơn nhẹ hoặc xấp xỉ mặt bằng quý II.
  • Đòn bẩy vận hành tiếp tục xuất hiện.
  • Trung tâm tiêm chủng giảm dần mức lỗ/tiến tới đóng góp lợi nhuận.
  • FPT Shop duy trì có lãi nhưng chưa phải động lực lớn.
  • LNST CĐ mẹ bình thường hóa khoảng 1.350 tỷ đồng.

EPS:

1.350 tỷ / 178,82 triệu
7.550 đồng/cp.

Với P/E hợp lý 22 lần:

Giá hợp lý ≈ 166.100 đồng/cp.

Làm tròn:

~166.000 đồng/cp.

Kịch bản tích cực

Giả định:

  • Long Châu tiếp tục lấy thị phần từ nhà thuốc truyền thống.
  • Doanh thu/cửa hàng duy trì quanh 1,2–1,3 tỷ đồng/tháng dù mạng lưới tăng.
  • Biên LNST Long Châu duy trì quanh 3% hoặc tốt hơn.
  • Trung tâm tiêm chủng bắt đầu đóng góp lợi nhuận rõ hơn.
  • FPT Shop cải thiện biên nhờ điện máy, gia dụng và tối ưu hệ thống.
  • Chi phí tài chính được kiểm soát.
  • LNST CĐ mẹ bình thường hóa khoảng 1.550 tỷ đồng.

EPS:

1.550 tỷ / 178,82 triệu
8.668 đồng/cp.

Nếu những điều kiện trên được xác nhận, doanh nghiệp có thể được định giá khoảng 24 lần P/E do Long Châu vẫn còn khả năng tăng nhanh hơn ngành.

Giá hợp lý:

8.668 × 24
208.000 đồng/cp.

Cơ sở lựa chọn P/E

FRT xứng đáng được định giá cao hơn doanh nghiệp bán lẻ thông thường nếu Long Châu duy trì được tăng trưởng vì:

  • Nhu cầu dược phẩm ít chu kỳ hơn ICT.
  • Thị trường nhà thuốc còn phân mảnh.
  • Chuỗi hiện đại còn khả năng lấy thị phần từ nhà thuốc truyền thống.
  • Long Châu đã xây dựng khoảng cách lớn về quy mô.
  • Doanh thu/cửa hàng cao.
  • Biên lợi nhuận đang cải thiện.
  • Có khả năng bán thêm dịch vụ chăm sóc sức khỏe trên cùng tập khách hàng.
  • Lợi nhuận còn khả năng tăng nhanh hơn doanh thu.

Ngược lại, không nên sử dụng mức P/E quá cao như giai đoạn trước vì:

  • Quy mô Long Châu đã lớn hơn nhiều.
  • Tốc độ tăng trưởng cửa hàng chắc chắn sẽ giảm dần khi độ phủ tăng.
  • Biên lợi nhuận quý II cần thêm thời gian để kiểm chứng.
  • FRT đang có nợ ròng.
  • Chi phí lãi vay tăng nhanh.
  • CFO H1/2026 thấp.
  • FPT Shop vẫn có biên lợi nhuận rất mỏng.
  • Định giá hiện tại đã phản ánh một phần đáng kể kỳ vọng tăng trưởng Long Châu.

Do đó khoảng P/E 20–24 lần được sử dụng tùy theo chất lượng lợi nhuận của từng kịch bản.

Kịch bảnLNST CĐ mẹ bình thường hóaEPSP/E hợp lýGiá hợp lý
Thận trọng1.150 tỷ~6.430 đồng20x~129.000 đồng
Cơ sở1.350 tỷ~7.550 đồng22x~166.000 đồng
Tích cực1.550 tỷ~8.668 đồng24x~208.000 đồng

Giá hiện tại đang gần kịch bản nào?

Tại:

142.900 đồng/cp

FRT cao hơn khoảng 11% so với kịch bản thận trọng nhưng thấp hơn khoảng 14% so với kịch bản cơ sở.

Giá hiện tại vì vậy nằm:

giữa kịch bản thận trọng và cơ sở.

Điều này có nghĩa thị trường đã ghi nhận việc Long Châu trở thành doanh nghiệp có lợi nhuận đáng kể, nhưng chưa phản ánh hoàn toàn khả năng biên lợi nhuận quý II trở thành mặt bằng mới.

Ở chiều ngược lại, biên an toàn hiện không quá lớn nếu biên Long Châu quay lại vùng thấp hoặc tốc độ tăng doanh thu/cửa hàng bắt đầu suy giảm.

Điểm quyết định giá trị FRT từ đây không còn đơn thuần là:

Long Châu mở thêm bao nhiêu nhà thuốc

mà chuyển sang:

mỗi nhà thuốc tạo bao nhiêu doanh thu và toàn hệ thống giữ lại được bao nhiêu lợi nhuận.


6. KẾT LUẬN

Quý II/2026 đánh dấu một thay đổi đáng chú ý của FRT: Long Châu không chỉ tiếp tục tăng doanh thu mà bắt đầu tạo đòn bẩy lợi nhuận rõ rệt. Doanh thu Long Châu tăng 38% nhưng LNST tăng hơn gấp đôi, đưa biên LNST lên khoảng 3,1%.

Dư địa tăng trưởng vẫn còn nhờ thị trường dược phẩm phân mảnh và quá trình chuyển dịch từ nhà thuốc truyền thống sang chuỗi hiện đại. Trung tâm tiêm chủng có thể trở thành nguồn tăng trưởng tiếp theo, nhưng hiện chưa đủ lớn để thay đổi định giá.

FPT Shop đã phục hồi mạnh về doanh thu nhưng lợi nhuận còn rất thấp. Vì vậy FRT hiện vẫn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào Long Châu về lợi nhuận.

Bảng cân đối có thanh khoản tương đối tốt nhưng không phải tiền ròng. Nợ vay khoảng 13.100 tỷ đồng và chi phí lãi vay tăng mạnh cần được theo dõi, trong khi CFO H1 gần như bằng 0 do tồn kho tăng gần 3.000 tỷ đồng.

Ba biến số quan trọng nhất trong những quý tới là doanh thu/nhà thuốc Long Châu, biên EBIT/LNST Long Châu và khả năng chuyển lợi nhuận kế toán thành dòng tiền khi tốc độ tăng tồn kho bình thường hóa.

  • Kịch bản thận trọng: ~129.000 đồng/cp.
  • Kịch bản cơ sở: ~166.000 đồng/cp.
  • Kịch bản tích cực: ~208.000 đồng/cp.

Ở giá 142.900 đồng ngày 26/8/2026, FRT đang nằm giữa kịch bản thận trọng và cơ sở. Biên an toàn sẽ mở rộng đáng kể nếu các quý tiếp theo xác nhận rằng mức biên lợi nhuận mới của Long Châu có tính bền vững, thay vì chỉ là kết quả thuận lợi của một vài quý.


NGUỒN DỮ LIỆU THAM KHẢO

  • BCTC hợp nhất Quý II/2026 và BCTC bán niên 2026 của CTCP Bán lẻ Kỹ thuật số FPT.
  • BCTC hợp nhất Quý I/2026 và BCTC hợp nhất năm 2025 của FRT.
  • Báo cáo thường niên FRT năm 2025.
  • Tài liệu và Nghị quyết ĐHĐCĐ thường niên FRT năm 2026.
  • Công bố kết quả kinh doanh 6 tháng đầu năm 2026 của FPT Retail.
  • Tổng công ty Lưu ký và Bù trừ Chứng khoán Việt Nam – thông báo phát hành cổ phiếu trả cổ tức năm 2025 của FRT.
  • Ủy ban Chứng khoán Nhà nước – báo cáo kết quả phát hành cổ phiếu trả cổ tức của FRT tháng 7/2026.
  • FiinX/FiinPro – dữ liệu BCTC hợp nhất, giá cổ phiếu, vốn hóa, P/E, P/B và số cổ phiếu lưu hành của FRT tại ngày 26/8/2026.
  • Vietcap – báo cáo cập nhật FRT tháng 6/2026 và báo cáo nhanh kết quả kinh doanh quý II/2026.
  • VDSC – cập nhật FRT sau kết quả kinh doanh quý II/2026.
  • BSC – cập nhật tài liệu ĐHĐCĐ FRT năm 2026.
  • ACBS – cập nhật ĐHĐCĐ FRT năm 2026.
  • MBS Research – Vietnam Dynamics 2026, dữ liệu về mức độ thâm nhập của chuỗi nhà thuốc hiện đại.
  • Euromonitor – dữ liệu thị trường bán lẻ chăm sóc sức khỏe Việt Nam.
  • Báo cáo tổng quan thị trường trong nước 2025 của cơ quan quản lý thị trường.
  • Theo tính toán và ước tính của Lọc Tín Hiệu đối với EPS TTM, nợ ròng, lợi nhuận bình thường hóa và ba kịch bản định giá.

Phân tích bởi Lọc Tín Hiệu